Skip to content Skip to navigation

Nghị định 232/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 của Chính Phủ quy định về vị trí việc làm viên chức

Ngày 26/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 232/2026/NĐ-CP quy định về vị trí việc làm của viên chức, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Nghị định được ban hành nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Viên chức năm 2025, đồng thời thay thế các quy định trước đây về vị trí việc làm của viên chức, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc quản lý đội ngũ viên chức theo hướng hiện đại, minh bạch và gắn với hiệu quả thực hiện nhiệm vụ.

Việc ban hành Nghị định đánh dấu bước chuyển quan trọng trong cải cách chế độ công vụ, công chức, viên chức khi chuyển từ phương thức quản lý chủ yếu dựa trên chức danh nghề nghiệp sang quản lý theo vị trí việc làm, phù hợp với yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng dịch vụ công.

1. Mục tiêu của Nghị định

Nghị định hướng đến việc xây dựng hệ thống vị trí việc làm thống nhất trong các đơn vị sự nghiệp công lập, bảo đảm mỗi viên chức được bố trí đúng vị trí phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, năng lực và yêu cầu chuyên môn. Đồng thời, đây cũng là căn cứ để thực hiện tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm và thực hiện chính sách tiền lương đối với viên chức theo nguyên tắc trả lương theo vị trí việc làm.

Thông qua việc xác định rõ vị trí việc làm, các đơn vị sự nghiệp công lập có điều kiện rà soát, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, sử dụng hiệu quả biên chế được giao, nâng cao chất lượng hoạt động và tăng cường trách nhiệm giải trình của từng viên chức.

2. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Nghị định quy định toàn diện các nội dung liên quan đến vị trí việc làm của viên chức, bao gồm nguyên tắc xác định vị trí việc làm; danh mục vị trí việc làm; bậc nghề nghiệp; bản mô tả công việc; khung năng lực; phương pháp xác định vị trí việc làm; cũng như thẩm quyền quản lý, phê duyệt và điều chỉnh vị trí việc làm.

Đối tượng áp dụng là các đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức làm việc theo quy định của pháp luật về viên chức.

3. Xác định vị trí việc làm viên chức

3.1 Nguyên tắc xác định vị trí việc làm

Nghị định quy định rõ các nguyên tắc xác định vị trí việc làm phải bảo đảm việc xác định vị trí việc làm căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập; phù hợp với danh mục vị trí việc làm khung theo quy định của Chính phủ.

Bảo đảm mỗi vị trí việc làm được xác định trên cơ sở nhóm nhiệm vụ có tính chất, nội dung công việc cơ bản giống nhau hoặc tương đồng.

Bảo đảm việc cụ thể hóa nội dung công việc của vị trí việc làm theo lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành, phạm vi công tác hoặc đối tượng phục vụ được thực hiện trong bản mô tả công việc và khung năng lực của vị trí việc làm; không làm thay đổi tên gọi và không làm phát sinh vị trí việc làm mới.

Bảo đảm việc phát triển, mở rộng phạm vi, mức độ phức tạp của công việc phải được thể hiện thông qua các bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm; không được sử dụng để hình thành vị trí việc làm mới.

3.2 Danh mục vị trí việc làm viên chức

Danh mục vị trí việc làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập được xác định theo các nhóm vị trí việc làm tại các Danh mục vị trí việc làm khung ban hành kèm theo Nghị định này, gồm:

Phụ lục I: Danh mục vị trí việc làm quản lý.

Phụ lục II: Danh mục vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ.

Phụ lục III: Danh mục vị trí việc làm hỗ trợ.

Danh mục vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ và danh mục vị trí việc làm hỗ trợ được xác định theo nguyên tắc mỗi lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp hoặc nhóm hoạt động có tính chất, nội dung chuyên môn cơ bản giống nhau là một vị trí việc làm.

Đối với vị trí việc làm quản lý:

Một chức danh quản lý tương ứng với một vị trí việc làm.

Trường hợp có từ 02 người trở lên giữ chức danh cấp phó của người đứng đầu thì việc phân công phụ trách lĩnh vực, nhiệm vụ cụ thể không làm phát sinh vị trí việc làm mới, không làm thay đổi tên gọi của vị trí việc làm.

Gắn với một vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ hoặc vị trí việc làm hỗ trợ phù hợp với lĩnh vực được giao phụ trách; là căn cứ để xác định nhiệm vụ chuyên môn, yêu cầu về năng lực và việc thực hiện chế độ, chính sách đối với viên chức theo quy định của pháp luật.

Danh mục vị trí việc làm được sử dụng thống nhất trong đơn vị; việc phân công nhiệm vụ cụ thể đối với từng viên chức không làm thay đổi vị trí việc làm đã được xác định.

3.3 Việc xác định, sử dụng vị trí việc làm phải bảo đảm các yêu cầu sau: Không làm phát sinh vị trí việc làm ngoài danh mục vị trí việc làm khung do Chính phủ ban hành; không thay đổi tên gọi vị trí việc làm, không chia, tách hoặc gộp vị trí việc làm trong danh mục vị trí việc làm khung do Chính phủ ban hành.

Trường hợp một vị trí việc làm được quy định đồng thời trong Danh mục vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ và Danh mục vị trí việc làm hỗ trợ, cơ quan, đơn vị có thẩm quyền quyết định việc áp dụng một Danh mục vị trí việc làm khung phù hợp trên cơ sở xem xét các tiêu chí sau:

a) Mức độ gắn với chức năng, nhiệm vụ chính của đơn vị: Vị trí việc làm thực hiện trực tiếp chức năng, nhiệm vụ chuyên môn của đơn vị được xác định là vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ; vị trí việc làm phục vụ hoạt động quản lý, điều hành hoặc bảo đảm điều kiện hoạt động chung của đơn vị được xác định là vị trí việc làm hỗ trợ.

b) Tính chất của sản phẩm đầu ra: Vị trí việc làm tạo ra sản phẩm chuyên ngành, có giá trị chuyên môn độc lập và được sử dụng trực tiếp trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị được xác định là vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ; vị trí việc làm tạo ra sản phẩm phục vụ nội bộ hoặc hỗ trợ quá trình hoạt động của đơn vị được xác định là vị trí việc làm hỗ trợ.

c) Yêu cầu về năng lực chuyên ngành: Vị trí việc làm đòi hỏi kiến thức, kỹ năng chuyên môn sâu, đáp ứng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, tiêu chuẩn chuyên môn hoặc điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật được xác định là vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ; vị trí việc làm chủ yếu yêu cầu kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ dùng chung, có thể áp dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau được xác định là vị trí việc làm hỗ trợ.

d) Vai trò trong quy trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị: Vị trí việc làm tham gia trực tiếp vào quá trình tạo ra sản phẩm, dịch vụ công cốt lõi của đơn vị được xác định là vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ; vị trí việc làm có chức năng bảo đảm, phục vụ hoặc hỗ trợ quá trình đó được xác định là vị trí việc làm hỗ trợ.

Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định danh mục vị trí việc làm viên chức thuộc ngành, lĩnh vực thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

3.4 Bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm

Nghị định quy định, bậc nghề nghiệp của từng vị trí việc làm được quy định thống nhất trong Danh mục vị trí việc làm tại Phụ lục II và Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này và được áp dụng thống nhất trong phạm vi cả nước. Bậc nghề nghiệp được xác định theo 05 bậc, từ bậc 1 đến bậc 5, trong đó bậc 1 là bậc thấp nhất và bậc 5 là bậc cao nhất.

Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quy mô và mức độ phát triển, đơn vị sự nghiệp công lập xác định số bậc nghề nghiệp áp dụng đối với từng vị trí việc làm trong đơn vị nhưng không vượt quá số bậc nghề nghiệp được quy định cho vị trí việc làm đó tại Phụ lục II và Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này.

Viên chức được bố trí vào một bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm phù hợp với năng lực và yêu cầu nhiệm vụ được giao. Viên chức được bố trí vào bậc nghề nghiệp nào thì được xếp lương tương ứng với bậc nghề nghiệp đó theo quy định. Việc thay đổi bậc nghề nghiệp của viên chức không làm thay đổi vị trí việc làm mà viên chức đang đảm nhiệm. Việc thay đổi bậc nghề nghiệp của viên chức được thực hiện theo quy định của pháp luật về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức.

Trong thời gian chưa thực hiện chế độ tiền lương mới theo quy định của cấp có thẩm quyền, viên chức được tuyển dụng, tiếp nhận theo quy định của Luật Viên chức được áp dụng Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước (Bảng 3) ban hành kèm Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Việc áp dụng bảng lương thực hiện như sau:

Bậc 1 áp dụng lương viên chức loại B.

Bậc 2 áp dụng lương viên chức loại A0.

Bậc 3 áp dụng lương viên chức loại A1.

Bậc 4 áp dụng lương viên chức loại A2, nhóm 1 (A2.1).

Bậc 5 áp dụng lương viên chức loại A3, nhóm 1 (A3.1).

Viên chức được bố trí đảm nhiệm vị trí việc làm quản lý quy định tại Nghị định này được xếp lương theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ hoặc vị trí việc làm hỗ trợ đang giữ và hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, quản lý tương ứng với vị trí đảm nhiệm theo quy định của pháp luật tiền lương hiện hành.

3.5 Tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm

Theo Nghị định, tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm bao gồm viên chức quản lý và viên chức không giữ chức vụ quản lý.

Tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện như sau (*)

a) Trường hợp vị trí việc làm có bậc sử dụng cao nhất là bậc 5 thì tỷ lệ ở bậc 5 không vượt quá 30% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí việc làm đó.

Tỷ lệ ở bậc thấp hơn gần nhất với bậc 5 không vượt quá 40% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí việc làm đó.

Tỷ lệ ở các bậc thấp hơn còn lại là tỷ lệ còn lại ở vị trí việc làm đó do đơn vị sự nghiệp công lập xác định cụ thể.

b) Trường hợp vị trí việc làm có bậc sử dụng cao nhất là bậc 4 thì tỷ lệ ở bậc 4 không vượt quá 40% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí việc làm đó.

Tỷ lệ ở các bậc thấp hơn còn lại là tỷ lệ còn lại ở vị trí việc làm đó do đơn vị sự nghiệp công lập xác định cụ thể.

c) Trường hợp vị trí việc làm chỉ xác định sử dụng 2 bậc nghề nghiệp thì tỷ lệ ở bậc cao hơn không vượt quá 50% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí việc làm đó.

Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên; đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức khoa học và công nghệ công lập hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành được quyết định vị trí việc làm thì đơn vị sự nghiệp công lập được quyết định tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm khác với tỷ lệ quy định tại (*) nêu trên phù hợp với yêu cầu hoạt động và khả năng tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập.

Tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm không áp dụng đối với những vị trí việc làm không xác định bậc hoặc chỉ có duy nhất một bậc.

Trường hợp chưa đủ số lượng theo tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm ở mỗi bậc thì số còn thiếu không được cộng vào bậc thấp hơn (liền kề hoặc không liền kề). Cơ quan, đơn vị có thẩm quyền phê duyệt vị trí việc làm thực hiện việc điều chỉnh tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.

4. Ý nghĩa của Nghị định đối với công tác quản lý viên chức

Việc ban hành Nghị định số 232/2026/NĐ-CP có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình cải cách nền hành chính và đổi mới cơ chế quản lý đơn vị sự nghiệp công lập.

Thứ nhất, Nghị định tạo cơ sở pháp lý đầy đủ để các đơn vị xây dựng và hoàn thiện Đề án vị trí việc làm theo hướng khoa học, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và khối lượng công việc thực tế.

Thứ hai, việc quản lý theo vị trí việc làm góp phần sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, bố trí đúng người, đúng việc, hạn chế tình trạng chồng chéo hoặc phân công công việc chưa hợp lý.

Thứ ba, Nghị định tạo nền tảng để đổi mới công tác tuyển dụng, đào tạo, đánh giá, bổ nhiệm và trả lương theo năng lực, kết quả thực hiện nhiệm vụ, phù hợp với chủ trương cải cách chính sách tiền lương của Đảng và Nhà nước.

Thứ tư, việc áp dụng thống nhất danh mục vị trí việc làm và khung năng lực sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch, công bằng và chuyên nghiệp trong quản lý viên chức, đồng thời nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công.

Nghị định số 232/2026/NĐ-CP là văn bản có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện cơ chế quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Những quy định mới của Nghị định không chỉ tạo cơ sở pháp lý cho việc xác định, quản lý và sử dụng vị trí việc làm mà còn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, có năng lực và trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Nghi-dinh-232-2026-ND-CP-vi-tri-viec-lam-vien-chuc-712592.aspx

Pháp chế