Skip to content Skip to navigation

Nội dung chính của thông tư 25/2026/tt-bnv ngày 01/10/2026 của chính phủ và nghị định số 368/2026/nđ-cp ngày 25 tháng 9 năm 2026 của chính phủ

Nội dung chính của thông tư 25/2026/tt-bnv ngày 01/10/2026 của chính phủ quy định biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật thi đua, khen thưởng và nghị định số 368/2026/nđ-cp ngày 25 tháng 9 năm 2026 của chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật thi đua, khen thưởng

Ngày 01/10/2026, Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 25/2026/TT-BNV quy định biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thi đua, khen thưởng và Nghị định số 368/2026/NĐ-CP ngày 25/9/2026 của Chính phủ. Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/10/2026 và thay thế Thông tư số 15/2025/TT-BNV.

Thông tư 25/2026/TT-BNV được ban hành trong bối cảnh hệ thống pháp luật về thi đua, khen thưởng có sự điều chỉnh theo Luật Thi đua, khen thưởng số 06/2022/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 06/2026/QH16 và Nghị định số 368/2026/NĐ-CP. Do đó, việc triển khai công tác thi đua, khen thưởng năm 2026 tại các cơ quan, đơn vị cần được thực hiện theo hướng đánh giá thực chất kết quả thực hiện nhiệm vụ, có tiêu chí và minh chứng cụ thể, bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, thay vì chỉ dựa vào bình xét hoặc nhận xét chung chung.

1. Phạm vi điều chỉnh và ý nghĩa của Thông tư 25/2026/TT-BNV

Theo Điều 1 Thông tư 25/2026/TT-BNV, Thông tư quy định các biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành một số nội dung của Luật Thi đua, khen thưởng và Nghị định 368/2026/NĐ-CP, tập trung vào các vấn đề: quy định chung về thi đua, khen thưởng; tuyến trình khen thưởng; khen thưởng đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị sau sắp xếp tổ chức bộ máy; công nhận hiệu quả áp dụng, khả năng nhân rộng của sáng kiến; phạm vi ảnh hưởng của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; tiếp nhận hồ sơ đề nghị khen thưởng và một số vấn đề liên quan đến hiện vật khen thưởng.

Như vậy, cần hiểu đúng rằng Thông tư 25 không phải là văn bản quy định toàn bộ tiêu chí đánh giá chất lượng viên chức.

Thông tư chủ yếu điều chỉnh cách thức tổ chức phong trào thi đua và việc bình xét danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng.

“Viên chức đạt từ 80 điểm trở lên thì được xếp loại Hoàn thành tốt nhiệm vụ” hoặc “đạt 90 điểm thì đương nhiên được công nhận Chiến sĩ thi đua cơ sở”.

Cách quy định như vậy có nguy cơ làm biến dạng tiêu chí pháp luật về đánh giá viên chức và danh hiệu thi đua.

2. Thi đua thường xuyên phải gắn với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị

Một trong những nội dung quan trọng nhất của Thông tư là yêu cầu tổ chức phong trào thi đua thường xuyên phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao, đồng thời xác định rõ mục đích, yêu cầu, mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể, nội dung, kế hoạch và phương pháp thực hiện.

Đối tượng của thi đua thường xuyên có thể là cá nhân trong cùng tập thể hoặc các tập thể, cơ quan, đơn vị có chức năng, nhiệm vụ, tính chất công việc tương đồng. Kết thúc năm công tác, người đứng đầu đơn vị tổ chức tổng kết và bình xét danh hiệu thi đua.

3. Thi đua theo chuyên đề – cần sử dụng để đánh giá các nhiệm vụ trọng tâm

Thông tư 25/2026/TT-BNV quy định thi đua theo chuyên đề là hình thức thi đua nhằm thực hiện tốt một nhiệm vụ trọng tâm hoặc một lĩnh vực cần tập trung trong một khoảng thời gian nhất định. Việc phát động phải xác định rõ: thời gian thực hiện; mục đích; yêu cầu; chỉ tiêu; nội dung; giải pháp; tiêu chí đánh giá kết quả.

4. Yêu cầu đánh giá kết quả thi đua: thực chất, có minh chứng và công khai

Thông tư 25/2026/TT-BNV nhấn mạnh khi tổng kết phong trào thi đua phải đánh giá đúng: kết quả; hiệu quả; tác dụng; tồn tại, hạn chế; nguyên nhân; bài học kinh nghiệm. Đồng thời, việc bình xét, quyết định danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng phải bảo đảm chính xác, công khai, minh bạch, công bằng. Minh chứng là yếu tố rất quan trọng để hạn chế tình trạng bình xét cảm tính.

5. Điểm mới đáng chú ý: phát huy sáng kiến, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Điều 9 Thông tư 25/2026/TT-BNV về công nhận hiệu quả áp dụng, khả năng nhân rộng của sáng kiến và phạm vi ảnh hưởng của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Theo đó, việc công nhận sáng kiến được thực hiện theo pháp luật về sáng kiến. Riêng việc đánh giá, công nhận hiệu quả áp dụng và khả năng nhân rộng của sáng kiến để làm căn cứ xét danh hiệu thi đua, khen thưởng do người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xem xét, công nhận bằng văn bản.

Đối với nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, việc đánh giá hiệu quả thực hiện theo pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Cá nhân được tính là người có nhiệm vụ để làm căn cứ xét thi đua, khen thưởng gồm chủ nhiệm, thư ký và thành viên chính tham gia nghiên cứu nhiệm vụ.

Đáng chú ý, phạm vi ảnh hưởng được xác định theo cấp độ. Nếu sáng kiến hoặc nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có hiệu quả áp dụng, khả năng nhân rộng hoặc phạm vi ảnh hưởng trong cơ quan, đơn vị thì có thể là căn cứ xét danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở; phạm vi rộng hơn có thể làm căn cứ xét danh hiệu ở cấp cao hơn theo quy định.

Tuy nhiên, cần lưu ý: không phải mọi sáng kiến hoặc ý tưởng cải tiến đều tự động được tính là căn cứ xét Chiến sĩ thi đua cơ sở. Cần thực hiện quy trình công nhận theo quy định và có văn bản xác nhận hiệu quả áp dụng, khả năng nhân rộng hoặc phạm vi ảnh hưởng.

6. Khen thưởng đối với đơn vị sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy

Điều 8 Thông tư 25/2026/TT-BNV quy định trách nhiệm khen thưởng và thời gian tính thành tích đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy.

Theo đó, trường hợp cơ quan, đơn vị chia tách, sáp nhập thì đơn vị tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ có trách nhiệm khen thưởng và đề nghị cấp trên khen thưởng. Trường hợp đơn vị tiếp nhận một phần chức năng, nhiệm vụ thì mốc thời gian và tiêu chuẩn được tính theo đơn vị tiếp nhận. Đối với đơn vị hình thành sau sắp xếp, thành tích thi đua có thể bao gồm kết quả thực hiện chỉ tiêu của tập thể trước và sau khi sắp xếp.

7. Phân biệt đánh giá, xếp loại viên chức với bình xét danh hiệu thi đua

Năm 2026, việc đánh giá, xếp loại chất lượng đối với viên chức được thực hiện theo Nghị định số 233/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.

Trong khi đó, việc xét danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng thực hiện theo Luật Thi đua, khen thưởng, Nghị định 368/2026/NĐ-CP và Thông tư 25/2026/TT-BNV.

Có thể phân biệt như sau:

Nội dung

Đánh giá, xếp loại viên chức

Thi đua, khen thưởng

Mục đích

Đánh giá chất lượng thực hiện chức trách, nhiệm vụ và mức độ hoàn thành công việc của viên chức

Ghi nhận, biểu dương thành tích trong phong trào thi đua

Căn cứ chính

Nghị định 233/2026/NĐ-CP và quy định liên quan

Luật Thi đua, khen thưởng; NĐ 368/2026/NĐ-CP;

TT 25/2026/TT-BNV

Đối tượng

Viên chức

Cá nhân, tập thể thuộc đối tượng thi đua, khen thưởng

Kết quả

Hoàn thành xuất sắc, hoàn thành tốt, hoàn thành nhiệm vụ hoặc không hoàn thành nhiệm vụ theo quy định

Lao động tiên tiến, Chiến sĩ thi đua cơ sở và các danh hiệu, hình thức khen thưởng khác

Cách đánh giá

Gắn với chức trách, nhiệm vụ, kết quả công việc và các tiêu chí đánh giá viên chức

Gắn với phong trào thi đua, thành tích, tiêu chuẩn danh hiệu và hình thức khen thưởng

Minh chứng

Kết quả thực hiện nhiệm vụ, sản phẩm công việc, trách nhiệm cá nhân

Thành tích thi đua, sáng kiến, kết quả nổi bật, phạm vi ảnh hưởng...

Quan hệ

Là một căn cứ quan trọng khi xem xét thi đua

Không thay thế quy trình đánh giá viên chức

http://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2026/9/25-bnv.signed.pdf

Pháp chế